Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2015

ĐIỀU KHIỂN DẠNG THỂ TÍCH

ĐIỀU KHIỂN DẠNG THỂ TÍCH


Trong bài Điều khiển bằng van tiết lưu mình đã giới thiệu phương pháp thay đổi vận tốc cơ cấu chấp hành bằng van tiết lưu. Trong thực tế còn một phương pháp khác cho phép chúng ta điều khiển tốc độ cơ cấu chấp hành bằng cách sử dụng các máy thủy lực dạng thể tích có lưu lượng biến đổi. Thay đổi lưu lượng của máy thủy lực thường thực hiện bằng sự thay đổi thể tích công tác (thể tích riêng) của máy thủy lực trong hệ thống.

Cho nên ta gọi điều khiển dạng này là:  điều khiển dạng thể tích hay Hệ truyền động  thủy lực  điều khiển bằng máy.
Trong các hệ thống thủy lực với động cơ thủy lực dạng chuyển động quay (motor thủy lực) có 3 phương án (phương pháp) điều khiển lưu lượng của các máy thủy lực này. 

1. Thay đổi thể tích riêng của máy bơm thủy lực
2. Thay đổi thể tích riêng của động cơ thủy lực (motor thủy lực)
3. Thay đổi thể tích riêng của các máy bơm và motor thủy lực.

Đối với hệ truyền động thủy lực với động cơ thủy lực tịnh tiến (xilanh thủy lực) chỉ có thể sử dụng phương án thứ nhất.

Nghiên cứu sơ đồ cơ bản dưới đây:
Hình 1. Sơ đồ mạch thủy lực không điều khiển
Với hệ truyền động không có khả năng điều khiển:
Trong trường hợp lý tưởng ta có: Qb = Qđc.
V0b×nb = V0đc×nđc;
nđc = (V0b/V0đc) ×nb;

Thêm vào thông số điều khiển bằng máy thủy lực dạng thể tích lưu (Ngắn gọn: điều khiển bằng máy thủy lực – hoặc điều khiển dạng thể tích)
Thông số điều khiển máy bơm: eb = V’0b/V0b;
V’0b – thể tích làm việc hiện thời của máy bơm;
V0b – thể tích làm việc cực đại của máy bơm;
Thông số điều khiển của động cơ: eđc = V’0đc/V0đc;
V’0đc – thể tích làm việc hiện thời của động cơ;
V0đc – thể tích làm việc cực đại của động cơ;
Ta có:
eb×V0b×nb = eđc×V0đc×nđc;
nđc =(eb/eđc)× (V0b/V0đc) ×nb; (1)

TH1. Điều khiển bằng cách thay đổi thể tích riêng của máy bơm thủy lực :

Trong phương án này chúng ta sử dụng máy bơm có khả năng thay đổi lưu lượng. Khả năng thay đổi lưu lượng của máy bơm được thể hiện bởi thông số điều khiển máy bơm eb. Khi lưu lượng máy bơm thay đổi từ 0 tới cực đại. Thông số điều khiển eb thay đổi từ 0 tới 1.
thay doi luu luong may bom
Hình 2. a - Sơ đồ nguyên lý; b - Sự phụ thuộc vận tốc và áp suất vào thông số điều khiển
1 - Động cơ thủy lực; 2 - Van an toàn; 3 - Bơm cố định phụ; 4 - Bơm chính biến đổi; 5 - Van một chiều

Từ biểu thức (1) ta có : eđc = 1 ; eb = 0÷1;
nđc =eb× (V0b/V0đc) ×nb; (1.1)
1. Khi eb = 0 à nđc = 0 : động cơ đứng yên;
2. Khi eb = 1 à nđc = nđc.max : động cơ quay với vận tốc cực đại;
Momen xoắn đặt vào trục động cơ chỉ phụ thuộc vào tải trọng ngoài; từ đó xác định được áp suất làm việc của chất lỏng trong động cơ: pđc;
Ta có:
Mđc = ∆pđc×V0đc/(2π) ; ∆pđc = ∆pb ;
Nđc = Mđc×Ωđc = V0đc×∆pđc×nđc ;
Khi cố định giá trị ∆p, công suất động cơ Nđc tỷ lệ thuận với tốc độ quay (tần số quay) của động cơ nđc ;

TH2. Điều khiển bằng các thay đổi thể tích động cơ :

eb = 1 và eđc = var ;
Hình 3. a - Sơ đồ nguyên lý; b - Sự phụ thuộc của vận tốc, momen của motor thủy lực vào thông số điều khiển;
eM – hiểu là thông số điều khiển của motor thủy lực; chính là eđc .
Tần số quay của động cơ :
nđc =(1/eđc)× (V0b/V0đc) ×nb; (1.2)
1. Khi eđc = 1 àthì  nđc = nđc.min : động cơ quay với vận tộc cực tiểu;
2. Khi eđc = 0 àthì  nđc à ∞ ;
Ta có:
Mđc = ∆pđc×V’0đc/(2π)= ∆pđc×eđc×V0đc/(2π); ∆pđc = ∆pb ;
Từ (1.2) ta có eđc = f(1/nđc) à Mđc = f’(1/nđc) ;
Nđc = Mđc×Ωđc = V’0đc×∆pđc×nđc  = eđc×V0đc×∆pđc× (1/eđc)× (V0b/V0đc) ×nb ;
Nđc = V0b×∆pđc×nb = Nb ;
Vậy Nđc không phụ thuộc vào nđc ;
Thông số điều khiển động cơ nhỏ gần với giá trị không là nhược điểm của phương pháp điều khiển này. Nghĩa là xuất hiện sự làm việc không ổn định của động cơ ; sau đó nó tự hãm. Đây là do quan hệ Mđc = f’(1/nđc). Khi nđc à ∞ thì Mđc à0 nên động cơ tự hãm và dừng. Vì tỷ lệ nghịch giữa Mđc và nđc gây nên sự làm việc không ổn định khi giá trị thông số điều khiển motor tiến về 0.

TH3. Thay đổi thể tích cả máy bơm lẫn động cơ thủy lực:

Sự điều khiển được thực hiện bằng cách lần lượt : Đầu tiên thay đổi thông số điều khiển của máy bơm khi giữ không đổi thể tích riêng của motor ; sau đó giữ cố định lưu lượng máy bơm ở cực đại và giảm thể tích riêng của động cơ. Giảm thể tích riêng của động cơ cho tới thông số điều khiển khi đạt được giá trị cực đại.
Hình 3. a - Sơ đồ nguyên lý; b - Sự phụ thuộc vận tốc, áp suất, momen vào thông số điều khiển.
eM – hiểu là thông số điều khiển của motor thủy lực; chính là eđc; 
eH – hiểu là thông số điều khiển của bơm thủy lực; chính là eb.

1. Chỉ điều khiển mỗi máy bơm
eđc = 1 ; eb = 0÷1 ;
eb = 0 à nđc = 0 ;
eb = 1 ànđc = nđc* ;
2. Chỉ điều khiển động cơ
eb = 1 ;
eđc giảm tới cực tiểu à nđc* tiến tới nđc.max ;

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2015

KINH NGHIỆM KIỂM TRA DẦU THỦY LỰC

KINH NGHIỆM KIỂM TRA DẦU THỦY LỰC

1. Kiểm tra bằng mắt


 Kiểm tra bằng mắt chủ yếu thông qua việc quan sát màu sắc và thử mùi của dầu thủy lực để tiến hành đưa ra phán đoán. Nếu màu sắc của dầu thủy lực nhạt đi chúng ta nên xem xét đến khả năng có bị pha trộn với dầu tái sinh không, lúc cần thiết phải kiểm trả độ nhớt của dầu. Nếu màu sắc của dầu đậm hơn, thậm chí bắt đầu chuyển sang đen điều này thể hiện rõ ràng dầu đã bị biến chất hoặc bị nhiễm tạp chất. Như vậy nếu thời gian sử dụng dầu chưa lâu thì chứng tỏ máy lọc dầu đã bị hỏng hoặc bị nhiễm tạp bằng con đường khác. Nếu màu sắc của dầu đậm hơn nữa và không còn trong suốt và có vẩn đục, điều này chứng tỏ dầu đã hoàn toàn hỏng hoặc bị nhiễm tạp chất nghiêm trọng. Nếu màu sắc của dầu không thay đổi nhiều lắm nhưng có vẩn đục và không trong suốt, đây có khả năng trong dầu có lẫn nước, ít nhất là chứa 0,03% nước, lúc cần thiết phải tiến hành kiểm tra thành phần nước. Nhưng cần chú ý, có một số dầu thủy lực loại cao cấp lúc mới đổ vào trong hộp dầu khi mới nhìn qua tưởng như có vẩn đục, nhưng trải qua một quá trình vận hành máy dầu sẽ trở nên trong suốt và không bị mất đi tính năng vốn có, thì vẫn được coi là bình thường.



Bảng Độ Ô Nhiễm Của Dầu Thủy Lực Và Cách Xử Lý

Quan sát bằng mắt
Mùi vị
Tình trạng
Cách xử lý
Màu sắc dầu trong suốt, không thay đổi
Tốt
Tốt
Tiếp tục sử dụng
Dầu trong suốt nhưng nhạt màu hơn
Tốt
Có pha trộn dầu khác
Kiểm tra độ nhớt, nếu tốt thì tiếp tục sử dụng
Dầu biến thành nhủ trắng
Tốt
Có lẫn không khí và nước
Tách nước, thay một phần hoặc thay toàn bộ dầu
Dầu chuyển sang màu đen hoặc nâu
Không tốt
Oxy hóa biến chất
Thay toàn bộ
Dầu trong suốt có chút một số điểm đen
Tốt
Có lẫn tạp chất
Sau khi lọc, kiểm tra các tiêu chuẩn có liên quan khác, nếu tốt thì sử dụng tiếp, không thì thay
Dầu trong suốt và phát sáng
Tốt
Có lẫn bột kim loại
Sau khi lọc, kiểm tra các tiêu chuẩn có liên quan khác, nếu tốt thì sử dụng tiếp, không thì thay

2. Kiểm tra độ nhớt


Độ nhớt dùng để đo lường các chỉ số chính của sự suy thoái dầu thủy lực. Trong phòng thí nghiệm của thể giới thông qua các thử nghiệm độ nhớt động học tiến hành đo lường định lượng. Mang các giá trị đo được đem so sánh với độ nhớt động học của dầu mới, nếu sự thay đổi vượt qua 10% giá trí phạm vi thay đổi thì nên thay dầu thủy lực mới.

Lúc kiểm tra tại hiện trường , các đơn giản là sử dụng 2 ống thử đường kính 10-15mm chiều dài 200 - 250 mm. Trong 2 ống thử ta đổ vào 1/3 dung tích 2 ống cùng một nhãn hiệu dầu thủy lực ( một ống dầu mới, 1 một ống dầu cũ), sau đó bị kín miếng ống dầu thủy lực. Trong cùng một điều kiện nhiệt độ, ta đồng thời đảo ngược 2 ống chứa dầu trên, cùng lúc kiểm tra thời gian gia tăng bọt trong dầu thủy lực. Nếu chênh lệch thời gian gia tăng bọt của dầu cũ và mới vượt qua 10% tổng thời gian gia tăng bọt của dầu mới, chứng tỏ độ biến đổi của dầu thủy lực đã vượt quá 10%, lúc này ta nên xem xét tiến hành lọc dầu hoặc thay dầu mới.

3. Kiểm tra thành phần nước


Thành phần nước là chỉ hàm lượng nước có trong dầu thủy lực, gây ô nhiễm thành phần chất lỏng trong dầu thủy lực. Hàm lượng nước trong dầu thủy lực thường được biểu thị dưới dạng %. Phương pháp tiêu chuẩn để đo lường thành phần nước trong dầu thủy lực ở phòng thí nghiệm là dùng phương pháp KAYL - FISHEY, chủ yếu dùng để đo độ ẩm trong dầu thủy lực. Nếu thao tác tiến hành tỉ mỉ có thể đo tới mới độ nhỏ nhất là 1ppm.

Tại hiện trường có thể áp dụng phương pháp đo lường bằng kinh nghiệm. Sử dụng một ống thử đường kính 15mm dài 150mm, đổ dầu thủy lực vào ống thử cho tới độ cao 50mm, sau đó lắc mạnh dầu mẫu ở trong ống, dùng kẹp ống để kẹp ống thử chứa dầu mẫu và hở trên đèn cồn để tăng nhiệt độ, nếu không có âm thanh rõ ràng chứng tỏ trong dầu không chứa thành phần nước, nếu liên tục phát ra âm thanh nhưng nhỏ và thời gian không vượt quá 20 - 30 s thì lượng nước trong dầu nhỏ hơn 0,03%, nếu liên tục phát ra âm thanh vượt quá 40 -50 s thì có thể đoán biết lượng nước trong dầu vào khoảng 0,05 - 0,10%. Lúc này ta nên xem xét tách nước ly tâm hoặc thay dầu.

Ngoài ra có thể sử dụng phương pháp lọc giấy để kiểm tra, nếu ở đường biên thấm lan của giọt dầu trên giấy có các đường viên ren thì chứng tỏ lượng nước trong dầu đã vượt tiêu chuẩn. Cũng có thể sử dụng phương pháp quan sát bằng mắt lượng hỗn tạp trong dầu để đánh giá hàm lượng nước trong dầu thủy lực.

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

CÁCH CHỌN DẦU THỦY LỰC PHÙ HỢP

CÁCH CHỌN DẦU THỦY LỰC PHÙ HỢP


Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại dầu thủy lực với những đặc tính khác nhau.Vậy làm thể nào để lựa chọn được dầu thủy lực một cách tốt nhất. Trong bài này chúng ta sẽ đi tìm hiểu về nhiệm vụ của dầu thủy lực và cách lựa chọn dầu thủy lực phù hợp.

Nhiệm vụ của dầu thủy lực:

Nhiệm vụ quan trọng nhất của dầu thủy lực là truyền tải năng lượng nhưng dầu thủy lực còn có tác dụng bôi trơn, giảm ma sát sinh ra do sự chuyển động của các thành phần trong hệ thống, điều này sinh ra nhiệt năng. Ngoài ra, dầu thủy lực còn có nhiệm vụ loại bỏ các hạt rắn, tạp chất bẩn và ma sát khỏi hệ thống, chống lại sự ăn mòn.
Yêu cầu của dầu thủy lực:
•           Đặc tính bôi trơn tốt;
•           Đặc tính chịu mòn tốt;
•           Độ nhớt phù hợp;
•           Hạn chế sự ăn mòn tốt;
•           Đặc tính chống tạo bọt khí tốt;
•           Ngăn nước tốt.
Những loại chất lỏng có thể  dùng trong thủy lực:
•           Dầu thủy lực gốc khoáng.
•           Dầu thủy lực gốc nước.
•           Dầu hỗn hợp
•           Chất lỏng nhân tạo.

 Cách lựa chọn dầu thủy lực cho phù hợp:

 Thông thường, dầu thủy lực được lựa chọn trên hai yếu tố chính: Thời tiết nơi thiết bị sử dụng và Các yêu cầu của bộ phận thủy lực sử dụng trong hệ thống truyền động thủy lực.

Độ nhớt: Sau khi chọn chủng loại ống dầu thủy lực phù hợp, bạn cần phải lựa chọn cấp độ nhớt của dầu cho phù hợp với khoảng nhiệt độ làm việc của thiết bị thủy lực. Theo ISO, cấp độ nhớt của dầu chỉ thị độ nhớt động lực học của dầu ở 40°C.
Có rất nhiều yêu cầu chất lượng khác nhau đối với dầu thủy lực nhưng điều quan trọng nhất trong số đó là độ nhớt của dầu không thay đổi nhiều với sự thay đổi của nhiệt độ.

1. Lựa chọn dầu thủy lực theo độ nhớt

- Ma sát trượt tăng lên, phát sinh ra nhiệt và tổn thất năng lượng lớn.
- Tổn thất trong mạch dầu tăng lên và tổn thất áp suất cũng tăng lên.
Nếu độ nhớt của dầu lựa chọn quá nhỏ thì:
- Rò rỉ trong bơm sẽ tăng lên, hiệu suất thể tích không đạt được và do đó áp suất làm việc yêu cầu không đáp ứng được.
- Do có sự rò rỉ bên trong của các valve điều khiển, xy lanh sẽ bị thu lại dưới tác dụng của phản lực, còn motor không thể sản ra đủ mô-men yêu cầu trên trục quay.

2. Lựa chọn dầu thủy lực theo vị trí địa lý nơi thiêt bị làm việc:

Theo vị trí địa lý và thời tiết từng vùng, người ta khuyến cáo nên sử dụng các phẩm cấp dầu như sau:
Vùng nhiệt đới: VG46 / AW 46 , Vùng ôn đới: VG32 / AW 32
Loại VG68 / AW 68 chỉ được sử dụng khi thiết bị làm việc trong môi trường không khí có nhiệt độ cao trong thời gian liên tục, lực ép cao, chịu tải nặng

NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA THANG MÁY THỦY LỰC


NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA THANG MÁY THỦY LỰC


Thang máy nguyên thủy có cấu tạo cực kỳ đơn giản gồm: một cái thùng gắn liền với một hệ thống nâng lên và hạ xuống. Hệ thống này có thể là dạng tời kéo dùng sức động vật, sức nước, hay vật nặng có tải trọng lớn.


Ngày nay, Thang máy hiện đại và thang máy vận chuyển hàng hóa có cấu tạo rất phức tạp so với khái niệm thang máy nguyên thủy. Nó cần hệ thống cơ khí tiên tiến để xử lý khối lượng đáng kể của cabin thang máy và hàng hóa. Ngoài ra, nó cần có cơ chế kiểm soát hành khách có thể vận hành thang máy, và các thiết bị an toàn để giữ cho mọi thứ hoạt động trơn tru.

Có hai thiết kế thang máy chủ yếu được sử dụng phổ biến hiện nay: thang máy thủy lực và thang máy chạy bằng máy kéo qua hệ thống dây cáp. Trong bài này chúng ta chỉ nghiên cứu phần nguyên lý hoạt động của thang máy thủy lực. Phân tích một số ưu, nhược điểm của hệ thống kiểu này. 

Hệ thống thang máy thủy lực sử dụng một piston thủy lực để nâng cabin thang máy. Bạn có thể thấy hệ thống này hoạt động trong sơ đồ dưới đây.


*Nguyên lý hoạt động:

Hệ thống thủy lực gồm: 1 – xilanh thủy lực tác động đơn; 2 – piston; 4 – bơm thủy lực dẫn động bằng động cơ điện; 5 – valve; 6 – Bể chứa dầu.

Máy bơm ép dầu từ bể vào một đường ống thủy lực dẫn đến xi lanh để nâng  cabin thang máy lên, khi đó valve 5 đóng. Quá trình hạ cabin thang máy valve 5 được mở ra, tải trọng cabin ép chất lỏng theo ống dẫn qua valve 5 trở về bể chứa làm cabin hạ xuống.

Khi cabin thang máy bằng tầng, hệ thống điều khiển sẽ gửi một tín hiệu đến tủ điện để tắt máy bơm. Khi đó dầu thủy lực không tiếp tục được nén vào xi-lanh, lượng chất lỏng trong xilanh được giữ nguyên trong lòng xilanh làm cho thang máy dừng lại (Ở đây các hệ thống valve cần được khóa sau khi nhận tín hiệu điện để dầu thủy lực không chảy ngược qua máy bơm về bể chứa). Piston đứng yên, và cabin cũng đứng yên theo.
Quá trình hạ xuống cũng cần có tín hiệu điện điều khiển mở valve 5, tải trọng cabin tự ép chất lỏng về bể chứa và cabin được hạ xuống. Tín hiệu điện mở valve sẽ dừng lại ở tầng được yêu cầu.


*Ưu điểm và khuyết điểm của thang thủy lực

Ưu điểm chính của hệ thống thang máy thủy lực là có thể dễ dàng dùng một lực tương đối nhỏ của động cơ máy bơm để tạo ra lực tương đối mạnh cần thiết để nâng cabin thang máy.

Nhưng các hệ thống này có hai nhược điểm lớn. Vấn đề chính là kích thước của thiết bị. Để cho cabin thang máy có thể tiếp cận với các tầng cao hơn, bạn phải thực hiện các piston dài hơn. Nhưng vẫn phải đảm bảo xi lanh dài hơn một chút so với piston để khi cabin thang máy ở tầng thấp nhất vẫn đảm bảo piston không kịch xi lanh.

Vấn đề là toàn bộ cấu trúc xi lanh phải được ở dưới đáy thang máy khi thang ở tầng thấp nhất. Điều này có nghĩa là bạn phải đào sâu hố PIT hơn khi bạn xây dựng cao hơn. Đây là một dự án tốn kém với các tòa nhà cao tầng. Để lắp đặt một thang máy thủy lực trong một tòa nhà 10 tầng, ví dụ, bạn sẽ cần phải đào sâu hố PIT tương đương với độ cao của 9 tầng. (Ở đây có thể sử dụng xilanh nhiều tầng để khắc phục)

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

THÙNG CHỨA DẦU THỦY LỰC VÀ BỘ TẢN NHIỆT

THÙNG CHỨA DẦU THỦY LỰC VÀ BỘ TẢN NHIỆT


Thùng chứa dầu dùng để lưu trữ và cung cấp dầu thủy lực (chính là chất lỏng làm việc) cho hệ thống thủy lực. Ngoài ra thùng chứa còn có nhiệm vụ trao đổi nhiệt giữa dầu thủy lực với môi trường xung quanh. Tại thùng chứa cũng là nơi tiến hành lọc cặn, bụi bẩn và không khí có trong dầu thủy lực.



Hình.1. Thùng chứa dầu
1 – dụng cụ chỉ mức dầu; 2– ống hút; 3 – nắp thùng; 4 – ống thông gió;
5 – cửa; 6 – ống xả (dầu từ hệ thống về ); 7 – bộ lọc;
 8 – bộ lọc dạng lưới (mắt lưới 0,1x0,1 mm); 9 – cửa rót dầu; 10 – nắp từ;
11 – nắp cửa xả dầu; 12 – các tấm ngăn (làm lắng dầu)

Thùng chứa được chế tạo bằng cách hàn các tấm thép lá độ dày từ 1-2 mm hoặc được đúc bằng gang. Hình dạng phổ biến của thùng chứa thường là  hình hộp chữ nhật. Bên trong thùng chứa có có các vách ngăn 12, để ngăn khoang hút và khoang xả. Ngoài ra, vách ngăn còn làm cho quãng đường tuần hoàn của dầu thủy lực dài hơn. Từ đó làm cho dầu thủy lực giảm bọt và làm lắng các cặn, tạp chất chứa trong dầu thủy lực xuống dưới đáy thùng chứa. Để tách không khí ra dầu thủy lực người ta sử dụng các lưới mắt nhỏ, đặt dưới góc của thùng chứa. Để làm phẳng lặng chất lỏng trong thùng chứa trên vách ngăn 12 có các lỗ thủng ở độ cao từ 50…10 mm từ đáy thùng. Rót chất lỏng làm việc vào thùng chứa qua cửa rót 9 với bộ lọc dạng lưới 8, có các mắt lưới không lớn hơn 0,1x0,1 mm.  Cửa rót dầu được đậy kín bằng nắp.
Sử dụng dụng cụ chỉ 1 hoặc cửa 5 để kiểm tra mức chất lỏng trong thùng chứa. Ống thông gió 4 có tác dụng  để cân bằng áp suất tại mặt thoáng chất lỏng trong thùng với áp suất khí quyển. Trong trường hợp cần áp suất trong thùng chứa khác áp suất khí quyển (áp suất dư hoặc chân không) thùng chứa được đóng kín không thông với không khí.
Các ống tuy ô thủy lực và ống xả được lắp đặt ở độ cao h = (2…3)d  từ đáy của thùng chứa,đầu các ống này được làm vát 1 góc 45o.  Khi đó lắp đặt miệng nghiêng của ống xả hướng về thành thùng chứa, còn miệng nghiêng của ống hút quay lưng về hướng thành thùng chứa. Với cách bố trí như vậy sẽ làm giảm sự trộn lẫn không khí vào chất lỏng và giảm sự khuấy cặn, tạp chất dưới đáy thùng chứa lên, đảm bảo giảm tạp chất bị hút vào ống hút, đảm bảo cho hệ thống làm việc. Phía trên phần ống xả có thể được lắp đặt bộ lọc dầu.  
  Đáy thùng chứa dầu có cửa xả 11 để xả dầu thủy lực ra, dùng cho trường hợp thay định kỳ dầu thủy lực và cọ rửa thùng chứa định kỳ.
  Tại đáy thùng chứa có thể lắp đặt nắp từ 10, có công dụng hút và giữ các cặn, tạp chất kim loại. Nắp thùng chứa 3 có thể tháo được và được liên kết với thùng chứa bằng vòng bít kín bằng cao su có độ bền cao đối với dầu thủy lực.
  Trong quá trình vận hành hệ thống thủy lực nhiệt độ dầu thủy lực không được phép vượt quá 55…60o C, hay quá 80o C trong trường hợp đặc biệt. Nếu không thể giữ nhiệt độ trong khoảng cho phép bằng các cách làm mát tự nhiên, thì trong hệ thống thủy lực cần phải lắp bộ tản nhiệt.
Trong hệ thống thủy lực sử dụng 2 kiểu tản nhiệt: làm mát bằng không khí và làm mát bằng nước.
Bộ tản nhiệt bằng nước có kích thước không lớn. Khác với tản nhiệt bằng không khí, tản nhiệt bằng nước hiệu quả hơn nhiều, nhưng nó lại đòi hỏi cần có các thiết bị để dẫn, luôn chuyển chất lỏng làm mát. Cấu trúc của bộ tản nhiệt dạng này có hình xoắn từ các ống thép (hình 2.a), và được gắn vào thùng chứa 1.
Các bộ tản nhiệt bằng nước thích hợp ứng dụng vào các hệ thống thủy lực của các máy cố định làm việc trong điều kiện nặng.
Hình.2. Bộ tản nhiệt:
а – tản nhiệt bằng nước; 1 – thùng chứa dầu; 2 – bộ ống xoắn;
b – tản nhiệt bằng không khí; 1 – tản nhiệt; 2 – quạt; 3 – bộ khởi động từ;
 4 – rơle; 5 –máy điều chỉnh nhiệt độ; 6 – đầu cảm ứng nhiệt

Bộ tản nhiệt bằng không khí  được thiết kế theo kiểu tản nhiệt trên ôtô hoặc sử dụng các đường ống dẫn dầu gấp song song để tăng tiết diện bề mặt truyền nhiệt. Kết hợp với quạt gió để tăng hiệu quả truyền nhiệt bề mặt của bộ tản nhiệt với không khí.
Để giữ nhiệt độ dầu thủy lực không đổi có thể sử dụng máy điều chỉnh nhiệt độ tự động ( hình 2.b). Khi nhiệt độ dầu thủy lực nâng lên cao, rơ-le 4 của máy điều chỉnh nhiệt độ 5  đóng kín mạch của bộ khởi động từ 3 của động cơ điện, trên trục động cơ điện được lắp đặt quạt gió 2. Dòng không khí thổi vào bộ tản nhiệt 1. Khi nhiệt độ giảm xuống mức cho phép, động cơ điện của quạt gió tự động ngắt. Máy điều chỉnh nhiệt làm việc nhờ đầu cảm ứng nhiệt 6

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015

ỐNG DẪN THỦY LỰC - TÍNH TOÁN ỐNG DẪN

ỐNG DẪN THỦY LỰC - TÍNH TOÁN ỐNG DẪN

Ống dẫn thủy lực
Trong quá trình thiết kế mạch thủy lực. Vấn đề chọn ống dẫn sao cho vừa đảm bảo yêu cầu làm việc, vừa kinh tế phải cần được tính tới. Trong bài này mình sẽ trình bày vấn đình tính toán để chọn được ống dẫn thích hợp. Mục đích của tính toán ống dẫn là xác định đường kính trong của ống dẫn, hao phí áp suất trên đường ống và độ dày của ống dẫn.

Đường kính trong d của ống dẫn xác định theo công thức :


Cong thuc tinh toan ong dan thuy luc

Ở đó Q – lưu lượng chất lỏng chảy qua ống, m3/s;
υ – vận tốc dòng chảy trong ống, m/s;
d – đường kính trong của ống dẫn, m.
Như vậy ở công thức trên muốn tính được đường kính trong d ta phải xác định được 2 giá trị Q và υ. Lưu lượng Q sẽ được quyết định bởi cơ cấu làm việc, còn vận tốc υ phụ thuốc vào áp suất của hệ thủy lực và chức năng của ống dẫn đó.
Các giá trị vận tốc υ khuyên dùng khi tính toán dựa trên bảng sau:


Chức năng của ống dẫn
Ống hút
Ống xả
Ống nén
PH,MPa
-
-
2,5
6,3
16
32
63
100
υ, m/s
1,2
2
3
3,5
4
5
6,3
10

Hao phí áp suất trên đoạn ống dẫn. 
Hao phí do trở lực ma sát theo chiều dài ống xác định theo công thức:
Cong thuc tinh toan ong dan thuy luc

Ở đó
ρ– khối lượng riêng của chất lỏng làm việc, kg/m3;
λ –hệ số ma sát ;
l – chiều dài ống dẫn, m.
Xác định λ – hệ số ma sát theo bảng sau.

Cong thuc tinh toan ong dan thuy luc

Ở đây Δ – là độ nhám tương đương bề mặt trong ống dẫn (Δ=0,05mm với đoạn ống thép , Δ=0,02mm với đoạn ống đồng, Δ=0,06mm đối với ống nhôm, Δ=0,03 với ống mềm cao su ) thì hệ số ma sát tính theo công thức.

Hao phí do trở lực cục bộ được tính theo công thức Weisbach:
Cong thuc tinh toan ong dan thuy luc
Ở đó ξ – hệ số trở lực cục bộ.
Giá trị ξ phụ thuộc vào dạng trở lực cục bộ.
Một vài dạng trở lục cục bộ phổ biến:
-Tại đoạn ống gập 1